Cây tam giác mạch hay còn gọi là mạch ba góc (Fagopyrum sagitratum Gilib.), họ nghể (Polygonaceae). Ở Việt Nam, tam giác mạch mọc phổ biến ở vùng núi, phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng...

Tam giác mạch là cây thảo, cao khoảng 0,5-1,5m. Thân nhẵn, màu lục hoặc màu đỏ tía. Lá đơn có cuống dài, mọc so le, hình tam giác. Vì thế mà cây mang tên “tam giác” hay “ba góc” lại cho hạt làm lương thực nên gọi là “mạch”.

Tam giác mạch chứa hợp chất rutinosid (7,92% trong lá, 4,5% trong hoa và 1,4% trong thân cây); còn có các chất quercetin, hyperin, tanin... Rutin làm giảm tính thấm của mạch máu, làm bền các mao mạch, hạ huyết áp, phòng các tai biến về mạch máu.

Theo Đông y, tam giác mạch có vị ngọt, tính mát, quy vào các kinh tỳ, vị và đại tràng. Có tác dụng khai vị, khoan tràng, hạ khí, tiêu tích.

Lá non tam giác mạch ăn sống hoặc nấu canh rất ngon và còn giúp cải thiện sức nhìn của mắt, sức nghe của tai. Hạt tam giác mạch có thể xay ra lấy bột làm bánh hoặc để nấu rượu, để chăn nuôi gia súc. Lá, thân và hoa là dược liệu chứa rutin, có thể dùng trong các bệnh xơ vữa mạch máu, xuất huyết, tăng huyết áp. Có thể dùng từ 8-10g (lá), 12g (hoa) hãm hoặc sắc uống nhiều lần trong ngày. Để chữa các bệnh viêm ruột, lỵ, đường ruột bị tích trệ, dùng 10-15g nhân hạt tam giác mạch, sao vàng, nấu cháo ăn.

sưu tầm