Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương, mạn đàm về bánh Trưng, bánh dày

  • Topic.IsSticky
  • 54 lượt xem
  • Bài viết cuối 05/04/2017
nguyenchitin đã gửi 05/04/2017 - Sửa lần cuối 13 Tháng Năm

                                                       Dù ai đi ngược về xuôi

                                         Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

                                                      Dù ai buôn bán gần xa

                                          Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười

     Có thể nói không có một dân tộc, đất nước nào lại có một nghi lễ tưởng nhớ đến người sáng lập nước như ở Việt Nam ta, trong nghi lễ đó không thể thiếu được món bánh Trưng, bánh Dày. Nguyên liệu để tạo ra bánh là chính là giống lúa giống lúa nếp Lang Liêu.Image result for Nhân ngày giỗ tổ Hùng VÆ°Æ¡ng, mạn đàm về bánh TrÆ°ng, bánh dày

Nhân dịp ngày giỗ tổ năm nay, tôi xin phép mạn đàm một chút về triết lý của loại bánh này.

      Nhưng trước hết tôi xin phép giải thích một chút về việc tại sao tôi lại dung từ bánh Trưng chứ không phải từ bánh chưng như một số sách hay viết. Từ trưng này có nghĩa là tượng trưng như trong phần lý giải ở trong truyền thuyết đã nói chứ không phải là loại bánh do luộc chín trong nước sôi mà thành.

   Xin phép được nhắc lại câu truyện bánh Trưng trong cuốn “Lĩnh Nam chích quái” của Trần Thế Pháp thời Trần như sau:

   Sau khi vua Hùng Vương phá được giặc ân, nhân quốc gia vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi hai vị quan lang và công chúa lại mà phán rằng: "Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi". Các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp trên cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duy có vị công tử thứ 18 là Lang Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, vì cô đơn mà chết, tả hữu ít người giúp đỡ, khó xoay xở nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia, mộng thấy có thần nhân tới nói rằng: "Các vật trên trời đất và mọi của quý của người không gì bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh mà ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình trời đất rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ". Lang Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói rằng: "Thần nhân giúp ta vậy!". Nói rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh, lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo cho thật sạch, lấy lá xanh bọc xung quanh thành hình vuông, cho trân cam mỹ vị vào bên trong để tượng trưng cho trời đất, vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh trưng. Lại lấy gạo nếp nấu chín, giã cho nát, nặn thành hình tròn,tượng trưng cho trời gọi là bánh dày. Đến kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật tiến lên. Xem qua khắp lượt, thấy không thiếu thức gì. Duy có Lang Liêu chỉ tiến dâng bánh trưng và bánh dày. Vua kinh ngạc mà hỏi, Lang Liêu đem giấc mộng thuật lại. Vua đem nếm, thấy ngon miệng không chán,hơn hẳn các thức của các con khác, tấm tắc khen hồi lâu rồi cho Lang Liêu được nhất. Đến ngày Tết, vua thường lấy bánh này dâng cúng cha mẹ.

trang1

trang 2

                           Bản scan truyện bánh trưng, bánh dày chủa viện nghiên cứu Hán Nôm

nguyenchitin đã gửi 05/04/2017 - Sửa lần cuối 05/04/2017

      Như vậy trong câu truyện này bánh trưng, bánh giầy tượng trưng cho trời và đất và nếu như vậy thì bánh trưng, bánh dầy thì chỉ cần một cái là đủ vì trời, đất chỉ có một thế nhưng tại sao chúng ta lại ghép 2 chiếc bánh trưng lại làm 1 cặp và bánh dày thành một cặp, và bánh trưng thường được gói bởi các sợi lạt nhuộm màu hồng chia bánh trưng thành chín ô bằng nhau? phải chăng nó còn một ý nghĩa khác?

      Theo như thầy dạy thư pháp của tôi là thầy Nghiêm Quốc Đạt, chủ nhiệm câu lạc bộ thư pháp Sơn Đồng thì bánh trưng được ghép thành một cặp là để tượng trưng cho Hà đồ và Lạc thư. Hà đồ ở đây không chính là bản bồ sông ngân hà trên trời và Lạc thư chính là sách của nhà Lạc chứ không phải là truyền thuyet Hà đồ, Lạc thư như chúng ta thường được  nghe nói tới. Giữa Hà đồ và Lạc thư có mối quan hệ gì với phả hệ trong truyền thuyết hình thành nhà nước Văn Lang của chúng ta.

     Vậy tại sao Hà đồ lại là bản đồ trên sông ngân hà? Và tại sao lại là sách của nhà Lạc chứ không phải như truyền thuyết về Hà đồ và Lạc thư như chúng ta thường được lý giải về Hà đồ:Cách đây 6000 năm, Vua Phục Hy thấy con Long Mã hiện lên trên sông Hoàng hà, trên mình có những xoáy bèn nghĩ ra Hà Đồ, Khi vua Vũ trị thủy thì trên sông Lạc thủy xuất hiện con rùa in hình Lạc thư dâng lên cho vua Vũ. Tôi sẽ phân tích nguồn gốc của Hà đồ gắn với Phục Hy,  Lạc thư với vua Vũ trong môt bài viết khác.

     Về vấn đề Hà đồ- bản đồ trên sông ngân hà chúng ta hãy xem xét lại một chút về sự thay đổi chòm sao bắc cực và phả hệ trong huyền sử về sự hình thành nhà nước Văn Lang bắt đầu từ thời Kinh Dương Vương cho đến thời vua Hùng dược ghi trong cuốn Đại việt sử ký toàn thư của sử thần Ngô Sĩ Liên ( xin tóm tắt lại).

Kinh Dương Vương

     Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.

Phụ chú: Thông tin thêm về  Quốc mẫu Hồng đăng ( Vụ tiên) ở Tiên cát, Phú Thọ :

?v=UpjK1DcaoeM&list=PLaZihFZEOe8vrWRapv_5WgziEXVtgTrIT&index=30

Lạc Long Quân

Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.

 Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng), là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.

 

nguyenchitin đã gửi 05/04/2017 - Sửa lần cuối 06/04/2017

Hùng Vương

   Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đều là đất thần thuộc của HùngVương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô . Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng17 ). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương.

    Như chúng ta đã biết là trái đất quay xung quanh mặt trời trên một trục tưởng tượng nghiêng khoảng 23,50 so với phương thẳng đứng, nhưng chính trục này cũng không phải là một trục cố định mà tạo thành một vòng tròn. Chính điều này tạo ra sự thay đổi của chòm sao bắc cực như hình dưới:

Thay đổi sao bắc cực

Chú giải:

Vòng tròn màu cam là số năm so với năm dương lịch mà các chòm sao đóng vai trò là sao Bắc đẩu.

Như bản đồ trên cho ta thấy:

Cách đây khoảng (-10000)  - (-8000) chòm sao đóng vai trò chòm sao bắc cực là chòm Vụ Tiên. (tiếng La Tinh: Hercules). Khoảng (-4000) năm là chòm sao Thiên long (tiếng La Tinh: Draco) có sao Thuban là sao bắc cực. Khoảng (-2000) là chòm sao Tiểu hùng với sao Polaris đóng vai trò là chòm sao bắc cực. Sau đó lần lượt là chòm Thiên Vương Thiên ưng ( với chòm sao Ngưu Lang) chòm Thiên cầm( với sao Chức Nữ) là các chòm sao Bắc đẩu, Như vây ta thấy có sự tương đồng nào đó giữa phả hệ thời Hùng Vương: Vụ tiên- Lạc long quân – Hùng Vương với sự thay đổi của chòm sao Bắc cực Vũ tiên- Thiên Long- Tiểu Hùng.

Mặt khác kết quả nghiên cứu của những năm gần đây cho thấy cư dân phương Nam trước thời Đông Sơn và Đông Sơn đã đạt đến một trình độ thiên văn rất cao: Từ 6000 năm tr.CN, chiếc rìu đá Bắc Sơn đã khắc hình chòm sao Vũ Tiên – một chòm sao mang tính chu kỳ đã xuất hiện trên bầu trời Đông Nam Á lúc đó.Trống Đồng Hoàng Hạ (và một số trống đồng khác) được xác định là những bức thiên đồ cho phép bằng cách đo bóng nắng mà xác định được các ngày tiết trong năm với mốc là những hoa văn có hình dáng rất gần với hình kí hiệu của những ngày tiết ấy trong thiên văn học hiện đại [Bùi Huy Hồng 1974: 364–372].

                                             hon da khac chom vu tien

nguyenchitin đã gửi 05/04/2017 - Sửa lần cuối 06/04/2017

Như vậy chiếc rìu đá khắc chòm sao Vũ Tiên từ 6000 năm tr.CN, trùng khớp với hiện tượng các nhà thiên văn hiện đại xác định chính chòm sao này là sao Thiên Cực Bắc 7000 năm trước. Hiện tượng này cho ta thấy những nhà thiên văn cổ Lạc Việt – từ trước thời lập quốc – đã nghiên cứu thiên văn và họ đã xác định được vị trí sao Thiên Cực Bắc, trùng khớp với sự tính toán của khoa thiên văn học hiện đại. Vật liệu để thể hiện chòm sao Vũ Tiên là chiếc rìu đá là một hiện tượng có thể dẫn đến vấn đề sau đây:

Vào thời đại đồ đá (tạm cho như vậy, vì chiếc rìu làm bằng đá), nếu quả thật con người hồi đó chỉ săn bắt hái lượm, thì người ta xuất phát từ nhu cầu gì để định hướng và định hướng đúng sao Bắc cực?

                      Ha do va cuu cung 

Liên quan tới Lạc thư chính là Hồng phạm cửu trù được ghi trong Kinh thư:

Sơ nhất viết Ngũ Hành,

Thứ nhị viết kính dụng Ngũ Sự,

Thứ tam viết nông dụng Bát Chánh,

Thứ tứ viết hiệp dụng Ngũ Kỷ,

Thứ ngũ viết kiến dụng Hoàng Cực,

Thứ lục viết nghệ dụng Tam Đức,

Thứ thất viết minh dụng Kê Nghi,

Thứ bát viết niệm dụng Thứ Trưng,

Thứ cửu viết hưởng dụng Ngũ Phúc, uy dụng Lục Cực.

Nghĩa là: 

Trù thứ nhứt gọi là Ngũ Hành,

Trù thứ hai gọi là kính dùng Ngũ Sự (năm việc),

Trù thứ ba là dùng cho đầy đủ Bát chánh (8 điều chánh),

Trù thứ tư là hiệp dùng Ngũ Kỷ,

Trù thứ năm là kiến thiết dùng Hoàng Cực,

Trù thứ sáu là cai trị dùng Tam Đức,

Trù thứ bảy là sáng suốt dùng Kê Nghi (xét việc nghi ngờ),

Trù thứ tám là xét dùng Thứ Trưng,

Trù thứ chín là khuyên dùng Ngũ Phúc, ra oai dùng Lục Cực.

  1. Ngũ Hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ.
  2. Ngũ Sự: Mạo, Ngôn, Thị, Thính, Tư. (Diện mạo, lời nói, thấy, nghe, suy nghĩ).
  3. Bát Chánh: Thực, Hóa, Tự, Tư Không, Tư Đồ, Tư Khấu, Tân, Sư. (Ăn, của cải, cúng tế, quan Tư Không [kho tàng], quan Tư Đồ [giáo dục], quan Tư Khấu [công an], tiếp khách, việc quân).
  4. Ngũ Kỷ: Tuế, Nguyệt, Nhật, Tinh thần, Lịch số. (năm, tháng, ngày, các vì sao, lịch số).
  5. Hoàng Cực: Làm vua dựng nên mực thước cho dân bắt chước, thì hưởng được 5 phúc lành, dùng để ban khắp cho thứ dân; các thứ dân theo mực thước của vua, giúp vua giữ mãi được mực thước ấy.
  6. Tam Đức: Chánh trực, Cương khắc, Nhu khắc. (ngay thẳng, cứng rắn, mềm dẽo).
  7. Kê Nghi: Xét những chỗ nghi hoặc bằng phép bói: Xem bói bằng chân gà, tiết gà…
  8. Thứ Trưng: Mưa, nắng, nóng, lạnh, gió, đều hợp thời, đúng khí hậu, cây cối tốt tươi.
  9. Ngũ Phúc, Lục Cực: Ngũ phúc là: Thọ, Phú, Khang ninh, Hiếu đức, Chung mệnh. (sống lâu, giàu có, mạnh khỏe bình yên, yêu chuộng đạo đức, già được trọn đời). Lục Cực: Hung đoản chiết, Tật, Ưu, Bần, Ác, Nhược. (hung họa chết non, tật bịnh, lo buồn, nghèo nàn, ác nghiệt, nhu nhược).

                    La thu va Hong pham cuu tru

nguyenchitin đã gửi 05/04/2017 - Sửa lần cuối 05/04/2017

Đó chính là hình tượng của 9 ô vuông của cả Hà đồ và Lạc thư tạo thành một ma trận với tổng số của hang ngàn, hang dọc, đường chéo đều là 15 tương ứng với 15 bộ của thời Hùng Vương. Theo đại việt sử ký toàn thư thì là: 

    Giao Chỉ (交趾)
    Chu Diên (朱鳶)
    Vũ Ninh (武寧)
    Phúc Lộc (福祿)
    Việt Thường (越裳)
    Ninh Hải (寧海)
    Dương Tuyền (陽泉)
    Lục Hải (陸海)
    Vũ Định (武定)
    Hoài Hoan (懷驩)
    Cửu Chân (九真)
    Bình Văn (平文)
    Tân Hưng (新興)
    Cửu Đức (九德)
    Văn Lang (文郎)

Nếu ta tính tổng số chấm ta sẽ có  Hà đồ = 55, Lạc thư  = 45. Tổng của Hà đồ và lạc thư cộng lại là vừa đủ 100 ứng với truyền thuyết Âu cơ đẻ ra một bọc 100 trứng sinh ra 100 người con, 100 con chia nhau lên rừng xuống biển mở rộng giang sơn từ đó chúng ta mới gọi người con nước Việt là đồng bào ( đồng: cùng, bào: bọc), - còn người Trung Quốc gọi chung là người Bách việt như trong sách “Lã Thị Xuân Thu”, thiên “Tự Quan” viết: “Phía Nam Dương Châu, Hán (Hán thủy) là Bách Việt”. “Bách Việt là nơi tộc Việt có cả trăm chủng”. Sách Hậu Hán Thư, Địa lý chí dẫn lời Thần Tán về Bách Việt như sau: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên 7,8 ngàn dặm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau gồm nhiều chủng tính (tên họ) khác nhau”.  Sử ký của Tư Mã Thiên chép rằng đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam vào đầu thế kỷ thứ IV TDL. Sách “Lã thị Xuân Thu” viết rằng  ngay từ đầu triều Thương, cổ sử Trung Quốc đã đề cập tới tên một số chi tộc Việt như Âu Thâm, Việt Âu, Quế Quốc, Quyên Tử, Sản Lý, Cửu Khuẩn, Đông Việt, Âu Nhân, U Việt, Cô Muội, Thả Âu và Cung Nhân.

Tôi lại thấy rằng bánh được chia làm 9 phần bằng nhau lại giống với những thửa ruộng  trên cánh đồng gọi là Lạc điền như trong cuốn GiaoChâu Ngoại của  vực ký chép: 交 趾 昔 未 有 郡 縣 之 時, 土 地 有 雒 田,其 田 從 潮 水 上 下,民 墾 食 其 田,因 名 為 雒 民。設 雒 王 雒 侯 主 諸 郡 縣。(Hồi Giao Chỉ còn chưa phải quận huyện, đất có Lạc điền, ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống, dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn, nên gọi là Lạc dân. Lại đặt ra Lạc vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện.)

Lạt có màu hồng ngoài ý nghĩa màu tốt lành ra thì tôi thấy nó có một sự gần âm giữa Lạt Hồng với Lạc Hồng.

nguyenchitin đã gửi 05/04/2017 - Sửa lần cuối 06/04/2017

     Đó là triết lý của chiếc bánh trưng hình vuông, tuy nhiên  theo tôi được biết ở xung quanh khu vực Thụy Lâm, Đông Anh, Hà Nội các cụ cao niên còn gọi loại bánh trưng hình tròn dài giống như bánh tét ở miền nam ( tạm gọi là bánh tét) là bánh trưng còn bánh vuông mà ta vừa nhắc thì gọi là bánh trưng vuông, còn các cô các bác trung niên thì lại gọi cả hai loại bánh vuông và tét là bánh trưng tròn và bánh trưng vuông. Như vậy là có thêm một loại bánh trưng nữa. Vây thì câu hỏi đặt ra là loại bánh tét đó tượng trưng cho cái gì mà vẫn gọi là bánh trưng? Triết lý ẩn sau của nó là gì?

    Theo Trần Quốc Vượng nói rằng bánh trưng nguyên thủy có hình tròn và dài, giống như bánh tét để đi cùng với bánh dày tạo thành hình tượng của tín ngưỡng phồn thực( cụ thể ở đây thờ sinh thực khí). Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của ông vì một số lý do như sau:

    Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng ra đời rất sớm đời trên thế giới, bản thân trong lễ hội truyền thống của dân tộc ta cũng còn nhiều lễ hội liên quan tới tín ngưỡng này như ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, hội làng Cự Linh (Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội……

                      Keo co qua cot go

                             Kéo co ở hội làng Cự Linh luồn qua lỗ một cây cột gỗ chôn chặt xuống đất

     Ở quê tôi gọi loại bánh trưng tròn đó gọi là bánh tày, gợi cho ta đến cách gọi cha ngày xưa là thầy gần âm với tày. Như vậy nếu thừa nhận như vậy thì bánh tày tượng trưng cho bố bằng hình tượng dương vật, bánh dày tượng trưng cho mẹ là bầu sữa. Điều này thể hiện qua việc cánh con trai làng khi thích vòng ngực của người con gái thì khen “ cặp bánh dày của con bé ngon quá”. Hay trong một số vở kịch xưa thỉnh thoảng cũng có một vài cảnh ví von bộ ngực của người con gái với bánh dày tương tự như đám anh chị quê tôi ngày xưa vậy.

Từ xưa, trong đạo hiếu của người Việt nam thì việc sinh con sinh cháu là việc rất quan trọng vì vậy mà loại bánh trưng thể hiện được mong ước của vua Hùng .( "Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi".) phù hợp nhất theo tôi là dạng bánh tròn, dài này. Còn loại bánh trưng vuông là sau này để bảo tồn những kiến thức của cha ông để lại, chống lại việc mất mát kiến thức do quân đô hộ vơ vét sách vở, nhân tài của nước Việt đem về phương Bắc nên đã sang tạo ra thêm loại bánh trưng vuông này. Tới đây tôi lại nhớ tới câu” mẹ tròn con vuông” không biết liệu nó có liên quan gì tới 2 loại bánh trăng này hay không thì tôi cũng thấy đó là một sự trùng hợp khá thú vị.

Tin nguong pho thuc

     Cũng từ hình dạng của bánh trưng, bánh dày thể hiện rất rõ câu “cha sinh mẹ dưỡng”  - thể hiện công ơn của cha mẹ với con cái.( "Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi".)

Một vài lời mạn đàm lúc nhàn rỗi là như vậy, thôi thì:

                                                      “Lời quê chép nhặt dông dài

                                               Mua vui cũng được một vài trống canh”

 

Bibon đã gửi 05/04/2017

Bài viết rất hay và sâu sắc

Cảm ơn bạn nguyenchitin

Bạn muốn gửi trả lời ? Hãy đăng nhập trước. Nếu chưa có tài khoản vào diễn đàn, hãy đăng ký
 

Chủ đề cùng danh mục

Chọn ngày  
Tháng Sáu 2019 June
19
Thứ Tư
 
Năm Kỷ Hợi
Tháng Canh Ngọ
Ngày Đinh Hợi
Giờ Canh Tí
17
Tháng Năm (ÂL, Đ)
Wednesday
Ngày Chu Tước hắc đạo
Ngũ hành nạp âm Ốc Thượng Thổ (Đất nóc nhà)
Trực Thâu
Nhị thập bát tú Sao Bích
Tuổi xung Tân Tị, Quý Tị

Danh sách sao:
Thiên Đức Tốt chung
Thiên Quý Tốt chung
Tốc Hỷ Tốt chung
Ngũ Phú Tốt chung
Phúc Sinh Tốt chung
Trùng Tang Kỵ giá thú, an táng, khởi công xây nhà
Không Phòng Kỵ giá thú
Chu Tước Hắc Đạo Kỵ nhập trạch, khai trương
Kiếp Sát Kỵ xuất hành, giá thú, an táng, xây dựng

Giờ hoàng đạo:
Sửu(1-3h), Ngọ(11-13h), Mùi(13-15h), Hợi(21-23h)
Giờ hắc đạo:
Tý(23h-1h), Mão(5-7h), Tị(9-11h), Dậu(17-19h)
Tiết khí:
Giữa Mang chủng (sao Tua Rua mọc) và Hạ chí (giữa hè)
Lưu ý sức khỏe:
Mùa hạ, nhiệt độ, độ ẩm không khí tăng cao, thấp nhiệt dày đặc trong không khí, khiến người cảm thấy ủ rũ không phấn chấn, tứ chi mệt mỏi. Vì vậy, phải tăng cường thể chất, tránh mắc các bệnh truyền nhiễm và bệnh thời tiết như cảm nắng, viêm tuyến mang tai, thủy đậu… Nên ngủ muộn dậy sớm, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, để thuận theo sự sung thịnh của dương khí. Mùa hạ ngày dài đêm ngắn, một giấc ngủ ngắn vào buổi trưa giúp giảm mệt mỏi, có lợi cho sức khỏe. Với người dễ ra mồ hôi, nên thường xuyên thay y phục. Để tránh cảm nắng, nên thường tắm rửa nhằm giúp da sơ thông. Nhưng cần chú ý, khi mới ra mồ hôi không lập tức tắm ngay.
Lưu ý: Ngày/giờ/sao tốt xấu được đưa ra theo kinh nghiệm của người xưa, chỉ có ý nghĩa tham khảo. Hãy căn cứ chủ yếu vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để đưa ra các quyết định!
HÀ NỘI
Thời tiết Hà Nội lúc 5:00 CH
Nhiệt độ: 33.0°C steady
Cảm nhận như: 35.7°C
Điểm sương: 26.0°C steady
Độ ẩm tương đối: 67%
Hướng gió: đông 22 km/h, giật km/h steady
Mưa: mm từ 9 SA
Áp suất không khí: 1002.0 hPa steady
Thứ Năm

Mưa giông
28°C - 36°C
Thứ Sáu

Chủ yếu là mây
29°C - 38°C
Thứ Bảy

Mưa rào vài nơi
29°C - 38°C
Chủ Nhật

Mưa giông
30°C - 37°C
 
TP HỒ CHÍ MINH
Thời tiết TP HCM lúc 5:30 CH
Nhiệt độ: 33.0°C steady
Cảm nhận như: 36.2°C
Điểm sương: 24.0°C steady
Độ ẩm tương đối: 59%
Hướng gió: bắc tây bắc 13 km/h, giật km/h steady
Mưa: mm từ 9 SA
Áp suất không khí: 1004.0 hPa steady
Thứ Năm

Mưa giông
26°C - 32°C
Thứ Sáu

Mưa giông
26°C - 32°C
Thứ Bảy

Mưa giông
25°C - 30°C
Chủ Nhật

Mưa giông
25°C - 29°C
Nguồn: weatherzone.com.au
  • Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index - BMI) - được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người.
  • Chỉ số khối cơ thể của một người tính bằng cân nặng của người đó (kg) chia cho bình phương chiều cao (mét).
  • Theo WHO, người lớn có BMI trong phạm vi [18.50 - 24.99] là người bình thường. Dưới 18.5 là gầy, trên 25 là người béo và trên 30 là béo phì.
TỶ GIÁ
Cập nhật: 19/06/2019 5:36:05 CH
Nguồn: Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam - Vietcombank
Ngoại tệ Mua Mua CK Bán
AUD 15.794,05 15.889,39 16.159,52
CAD 17.133,00 17.288,60 17.582,52
CHF 22.978,57 23.140,55 23.440,01
EUR 25.749,26 25.826,74 26.501,66
GBP 28.947,61 29.151,67 29.411,04
HKD 2.935,74 2.956,44 3.000,69
JPY 211,78 213,92 221,61
KRW 18,07 19,02 20,63
SGD 16.839,79 16.958,50 17.143,64
THB 730,90 730,90 761,39
USD 23.255,00 23.255,00 23.375,00
 
GIÁ VÀNG MIẾNG SJC 9999
Cập nhật: 03:37:06 PM 19/06/2019
Nguồn: http://www.sjc.com.vn/
Tỉnh/TP Mua Bán
Hồ Chí Minh 37.400 37.600
Hà Nội 37.400 37.620
Đà Nẵng 37.400 37.620
Nha Trang 37.390 37.620
Cà Mau 37.400 37.620
Buôn Ma Thuột 37.390 37.620
Bình Phước 37.370 37.630
Huế 37.380 37.620
Biên Hòa 37.400 37.600
Miền Tây 37.400 37.600
Quãng Ngãi 37.400 37.600
Đà Lạt 37.420 37.650
Long Xuyên 37.400 37.600